Pin It
Home / Tin tức / Pháp lý / 4 Nguyên tắc “vàng” khi cho người nước ngoài thuê nhà

4 Nguyên tắc “vàng” khi cho người nước ngoài thuê nhà

Thứ nhất về hình thức của giao dịch thuê nhà ở 

” Điều 492. Hình thức hợp đồng thuê nhà ở

Hợp đồng thuê nhà ở phải được lập thành văn bản, nếu thời hạn thuê từ sáu tháng trở lên thì phải có công chứng hoặc chứng thực và phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”

4-nguyen-tac-vang-khi-cho-nguoi-nuoc-ngoai-thue-nha-1

Theo đó hợp đồng theo nhà phải được lập thành văn bản, tuy nhiên theo quy định mới hiện hành của luật nhà ở 2014 thì đối với hợp đồng thuê nhà có thời hạn trên 6 tháng cũng không nhất thiết phải được công chứng, chứng thực nữa, cụ thể như sau:

” Điều 122. Công chứng, chứng thực hợp đồng và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng về nhà ở

2. Đối với trường hợp tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương; mua bán, cho thuê mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; mua bán, cho thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở phục vụ tái định cư; góp vốn bằng nhà ở mà có một bên là tổ chức; cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở thì không bắt buộc phải công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp các bên có nhu cầu.”

Thứ hai về quyền và nghĩa vụ của bên cho thuê nhà ở

Bên cho thuê có một số quyền cơ bản như sau:

– Cải tạo, nâng cấp nhà cho thuê khi được bên thuê đồng ý, nhưng không được gây phiền hà cho bên thuê sử dụng chỗ ở;

– Được lấy lại nhà cho thuê khi thời hạn thuê đã hết; nếu hợp đồng không quy định thời hạn thuê thì bên cho thuê muốn lấy lại nhà phải báo cho bên thuê biết trước sáu tháng. Tuy nhiên theo luật nhà ở hiện hành thì chỉ cần thông báo trước 90 ngày

Nghĩa vụ của cho bên thuê nhà như sau:

– Giao nhà cho bên thuê theo đúng hợp đồng;

– Bảo đảm cho bên thuê sử dụng ổn định nhà trong thời hạn thuê;

– Bảo dưỡng, sửa chữa nhà theo định kỳ hoặc theo thỏa thuận; nếu bên cho thuê không bảo dưỡng, sửa chữa nhà mà gây thiệt hại cho bên thuê thì phải bồi thường.

Thứ ba về quyền và nghĩa vụ của bên thuê nhà như sau:

Quyền của bên thuê nhà như sau:

– Nhận nhà thuê theo đúng thoả thuận;

– Được đổi nhà đang thuê với người thuê khác, nếu được bên cho thuê đồng ý bằng văn bản;

– Được cho thuê lại nhà đang thuê, nếu được bên cho thuê đồng ý bằng văn bản;

– Được tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận với bên cho thuê, trong trường hợp thay đổi chủ sở hữu nhà;

– Yêu cầu bên cho thuê sửa chữa nhà đang cho thuê trong trường hợp nhà bị hư hỏng nặng.

Nghĩa vụ của bên thuê nhà như sau:

– Sử dụng nhà đúng mục đích đã thỏa thuận;

– Trả đủ tiền thuê nhà đúng kỳ hạn đã thỏa thuận;

– Giữ gìn nhà, sửa chữa những hư hỏng do mình gây ra;

– Tôn trọng quy tắc sinh hoạt công cộng;

– Trả nhà cho bên cho thuê theo đúng thỏa thuận.

Thứ tư về quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng 

Bên cho thuê nhà ở có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà và thu hồi nhà ở đang cho thuê khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

– Bên thuê không trả tiền thuê nhà ở theo thỏa thuận từ 03 tháng trở lên mà không có lý do chính đáng;

– Bên thuê sử dụng nhà ở không đúng mục đích như đã thỏa thuận trong hợp đồng;

– Bên thuê tự ý đục phá, cơi nới, cải tạo, phá dỡ nhà ở đang thuê;

– Bên thuê chuyển đổi, cho mượn, cho thuê lại nhà ở đang thuê mà không có sự đồng ý của bên cho thuê;

– Bên thuê làm mất trật tự, vệ sinh môi trường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt của những người xung quanh đã được bên cho thuê nhà ở hoặc tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc lập biên bản đến lần thứ ba mà vẫn không khắc phục;

g) Thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 129 của Luật này.

Bên thuê nhà ở có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà ở khi bên cho thuê nhà ở có một trong các hành vi sau đây:

– Không sửa chữa nhà ở khi có hư hỏng nặng;

– Tăng giá thuê nhà ở bất hợp lý hoặc tăng giá thuê mà không thông báo cho bên thuê nhà ở biết trước theo thỏa thuận;

– Khi quyền sử dụng nhà ở bị hạn chế do lợi ích của người thứ ba.

Trong đó bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà ở phải thông báo cho bên kia biết trước ít nhất 30 ngày, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác; nếu vi phạm quy định tại khoản này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Bình luận

Bình luận